Phát triển du lịch biển ở vùng Bắc Trung Bộ

PHẠM THỊ THANH HUYỀN (Trường Đại học Kinh tế quốc dân)

 

TÓM TẮT:

Các bãi biển dọc bờ biển mang đến nhiều cơ hội giải trí cho rất nhiều người. Chèo thuyền, câu cá, bơi lội, đi bộ và tắm nắng là một trong số rất nhiều hoạt động được những người đi biển yêu thích. Bãi biển cung cấp môi trường sống độc đáo cho nhiều loại thực vật và động vật. Với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, cây ngập mặn thống trị các bãi biển, đầm phá, cửa song. Với hệ sinh thái độc đáo, du lịch biển tại Bắc Trung Bộ hoàn toàn có thể phát triển du lịch sinh thái theo cách thức bền vững.

Từ khóa: Du lịch biển, du lịch bền vững, vùng Bắc Trung Bộ.

1. Sự cần thiết của phát triển bền vững du lịch biển tại Bắc Trung Bộ

Phát triển du lịch biển mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cộng đồng địa phương, bên cạnh đó cũng gây ra tác hại cho môi trường và ảnh hưởng xã hội khu vực ven biển. Ngày nay phát triển các khu nghỉ mát bãi biển và các điểm tham quan mở rộng để đáp ứng nhu cầu nội địa và quốc tế ngày càng tăng. Mặc dù có nhiều khu nghỉ dưỡng và điểm tham quan thành công, sự phát triển và vận hành chúng thường liên quan đến suy thoái môi trường, các vấn đề cộng đồng và ít hiệu quả kinh tế mong muốn. Sự phát triển du lịch đã dẫn đến áp lực gia tăng đối với các bãi biển, đe dọa kinh tế, các khu giải trí xung quanh, ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên và thẩm mỹ. Việc quản lý các bãi biển trên thế giới đối mặt với nhiều chỉ trích do các chiến lược coi thường môi trường hoặc các biện pháp bảo tồn không đúng. Vì hệ thống bãi biển phức tạp, các nhà quản lý cần áp dụng nhiều biện pháp chủ động và toàn diện tới thuộc tính vật lý, môi trường, xã hội, kinh tế, liên quan tới điểm đến bãi biển. Ngoài ra, các nhà quản lý điểm đến bãi biển cần duy trì sự cân bằng giữa việc bảo tồn môi trường tự nhiên với cung cấp dịch vụ du lịch, tránh đánh đổi kinh tế với tính bền vững của bãi biển.

Phát triển khu nghỉ dưỡng bãi biển phải đối mặt với các vấn đề do các bên liên quan không thể đưa ra quyết định hợp lý về thiết kế bền vững bởi sự phức tạp của các vấn đề bền vững và thiếu công cụ ra quyết định toàn diện để hỗ trợ họ.

Du lịch biển thường thiếu một cách tiếp cận toàn diện liên kết các chỉ số bền vững và mang năng lực trong các mô hình thiết kế và quy định quy hoạch. Để phát triển du lịch bãi biển bền vững, các mô hình thiết kế bền vững theo khái niệm bao gồm một loạt các năng lực có thể chấp nhận được dựa trên các ngưỡng năng lực sinh thái, xã hội, tâm lý, thể chất, kinh tế và quản lý của các trang web là cần thiết.

Du lịch biển là một trong những loại hình du lịch phổ biến nhất trên quy mô toàn cầu và là động lực kinh tế quan trọng cho các điểm đến (Alves et al., 2014; Dodds, 2010; Houston, 2013). Biển là khu vực giải trí chính thu hút mọi người tới đó và phát triển kinh doanh xung quanh (Amyot và Grant, 2014). Xu hướng du lịch biển cũng thay đổi theo thời gian. Trước đây, các nhà tổ chức thường tuyên truyền du lịch đại chúng, tập trung đông khách du lịch với các động cơ du lịch hạn chế ((Alegre and Garau, 2010).

Cách tiếp cận này không còn hiệu quả, vì khách du lịch yêu cầu các sản phẩm và dịch vụ mới và được cải tiến, đòi hỏi các tổ chức kinh doanh du lịch hướng tới mục tiêu nhỏ hơn, phân khúc khách du lịch cụ thể hơn, dựa trên hồ sơ nhân khẩu học và sở thích của họ (Alegre và Cladera, 2006; Alegre và Garau, 2010; Botero et al., 2013; House et al., 2015: Walsh và Dodds và Butler, 2019). Gần đây, xu hướng du lịch biển thay đổi theo hướng khách du lịch trở nên ý thức hơn về môi trường khi đi du lịch, tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao hơn và mong muốn thăm các điểm đến sẽ mang lại cho họ trải nghiệm độc đáo hơn (Alegre và Cladera, 2006; Chan, 2014).

Hiểu sự hài lòng của khách du lịch là rất quan trọng để marketing điểm đến thành công bởi nó ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và ý định quay lại của khách du lịch (Kozak, 2001; Yoon và Uysal, 2005). Lý do khách du lịch lựa chọn đi biển vì họ muốn thư giãn, trốn thoát khỏi sự căng thẳng thường ngày và tham gia vào các hoạt động giải trí bãi biển (Lucrezi and Van der Walt, 2016).

Do các bãi biển có đặc điểm tự nhiên, nên một điểm đến bãi biển thành công phải xem xét cả chất lượng môi trường và chất lượng trải nghiệm khách du lịch (Botero và cộng sự, 2013; Klein và Dodds, 2017). Điều này đặc biệt thách thức vì sự xuống cấp của các bãi biển sẽ làm giảm sự hài lòng của du khách. Nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch biển thường liên quan tới các yếu tố: khí hậu, chất lượng nước, phòng ở, phong cảnh và an toàn (bao gồm điều kiện bơi an toàn, thông tin sơ cứu) (Alegre và Cladera, 2006; Kozak, 2001; Yoon và Uysal, 2005).

Khái niệm bền vững trong trường hợp du lịch biển cho rằng tính bền vững môi trường và xã hội có sự liên hệ chặt chẽ với nhau (Thiele và cộng sự, 2005).

hai tien
Biển Hải Tiến - Thanh Hóa

2. Đóng góp của du lịch biển với kinh tế

Các tác động kinh tế tích cực chính của du lịch bền vững (ven biển) là: đóng góp cho thu nhập của Chính phủ, thu nhập ngoại hối, tạo cơ hội việc làm và kinh doanh.

2.1. Đóng góp cho thu nhập của chính phủ và địa phương

Thu nhập của Chính phủ và địa phương từ ngành Du lịch có thể được phân loại thành đóng góp trực tiếp và gián tiếp. Đóng góp trực tiếp được tạo ra bởi thuế thu nhập từ du lịch và việc làm do du lịch, kinh doanh du lịch và bởi các khoản phí trực tiếp đối với khách du lịch như ecotax. Đóng góp gián tiếp xuất phát từ thuế và thuế đối với hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho khách du lịch; ví dụ, thuế đối với vé (hoặc vé vào cửa đến bất kỳ khu vực được bảo vệ nào), quà lưu niệm, rượu, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ của các công ty lữ hành.

2.2. Giải quyết vấn đề việc làm

Sự phát triển của du lịch biển tạo việc làm đáng kể. Du lịch có thể tạo việc làm trực tiếp thông qua khách sạn, nhà hàng, taxi, bán hàng lưu niệm và gián tiếp thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho các doanh nghiệp liên quan đến du lịch, ví dụ như tiến hành điều hành tour. Du lịch có thể tác động đến chính quyền địa phương để cải thiện cơ sở hạ tầng bằng cách tạo ra hệ thống nước và nước thải, đường giao thông, điện, điện thoại và mạng lưới giao thông công cộng tốt hơn. Tất cả điều này có thể cải thiện mức sống cho cư dân cũng như tạo điều kiện cho phát triển du lịch.

2.3. Đóng góp tài chính trực tiếp để bảo vệ thiên nhiên

Du lịch có thể đóng góp trực tiếp vào việc bảo tồn các khu vực và môi trường sống nhạy cảm. Doanh thu từ phí vào công viên và các nguồn tương tự có thể được phân bổ cụ thể để chi trả cho việc bảo vệ và quản lý các khu vực nhạy cảm với môi trường. Một số chính phủ thu tiền theo những cách sâu rộng và gián tiếp không liên quan đến các công viên hoặc khu vực bảo tồn cụ thể. Phí người dùng, thuế thu nhập, thuế bán hoặc cho thuê thiết bị giải trí và phí giấy phép cho các hoạt động như săn bắn và câu cá có thể cung cấp cho chính phủ các quỹ cần thiết để quản lý tài nguyên thiên nhiên.

2.4. Lợi thế cạnh tranh

Ngày càng có nhiều nhà điều hành tour du lịch thực hiện một cách tiếp cận tích cực hướng tới sự bền vững. Không chỉ bởi vì người tiêu dùng mong đợi họ làm như vậy, còn bởi vì họ nhận thức được rằng các điểm đến nguyên vẹn là điều cần thiết cho sự tồn tại lâu dài của ngành Du lịch. Ngày càng có nhiều nhà điều hành tour du lịch thích làm việc với các nhà cung cấp hành động bền vững, ví dụ: tiết kiệm nước và năng lượng, tôn trọng văn hóa địa phương và hỗ trợ hạnh phúc của cộng đồng địa phương.

cua lo
Bãi biển Cửa Lò - Nghệ An

3. Các vấn đề từ du lịch ảnh hưởng tới môi trường bãi biển trên thế giới

Du lịch đại chúng thường đến một khu vực tương đối nhỏ nhưng có tác động rất lớn. Chúng làm tăng thêm ô nhiễm, chất thải và nhu cầu nước của người dân địa phương, khiến cơ sở hạ tầng và môi trường sống địa phương chịu áp lực rất lớn. Gần đây nhất, ngay tại Việt Nam, Sapa cũng đối mặt với việc thiếu nước trầm trọng, ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp và du lịch ở đây.

Trong nhiều lĩnh vực, các dự án du lịch mới được xây dựng - bao gồm sân bay, bến du thuyền, khu nghỉ dưỡng và sân golf. Phát triển quá mức cho du lịch có những vấn đề tương tự như các phát triển ven biển khác, nhưng thường có tác động lớn hơn vì các phát triển du lịch nằm ở hoặc gần các hệ sinh thái biển mong manh. Ví dụ: rừng ngập mặn và đồng cỏ biển đã bị loại bỏ để tạo ra những bãi biển mở, phát triển du lịch như cầu tàu và các công trình khác đã được xây dựng trực tiếp trên đỉnh các rạn san hô, khiến cho địa điểm làm tổ cho rùa biển đang bị đe dọa đã bị phá hủy và xáo trộn bởi số lượng lớn khách du lịch trên các bãi biển.

Các thiệt hại không kết thúc với việc xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch. Một số khu du lịch đổ nước thải và chất thải khác trực tiếp vào nước xung quanh các rạn san hô và môi trường sống nhạy cảm khác trên biển. Các hoạt động giải trí cũng có tác động rất lớn. Ví dụ, chèo thuyền, lặn và câu cá đã làm hư hại đáng kể các rạn san hô ở nhiều nơi trên thế giới, thông qua những người chạm vào các rạn san hô, khuấy động trầm tích và thả neo.

Du lịch cũng có thể thêm vào việc tiêu thụ hải sản trong một khu vực, gây áp lực lên quần thể cá địa phương và đôi khi góp phần đánh bắt quá mức. Bộ sưu tập san hô, vỏ sò và các món quà lưu niệm biển khác để bán cho các khách du lịch cá nhân cũng có tác động bất lợi đến môi trường địa phương.

Du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến ô nhiễm nguồn nước, trong đó có nguyên nhân rất lớn từ các tàu du lịch. Những con tàu này, là một lựa chọn kỳ nghỉ phổ biến cho nhiều người, đổ rất nhiều chất thải vào đại dương mỗi năm. Thường thì họ đi vào vùng biển quốc tế để làm như vậy. Ở những khu vực không được kiểm soát này, họ sẽ vứt rác thải không được xử lý của hàng ngàn người mà họ có trên tàu.

bien thach hai
Biển Thạch Hải - Hà Tĩnh

Các bãi biển ở Bắc Trung Bộ có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch sinh thái. Bên cạnh những đóng góp to lớn cho sự phát triển, tăng trưởng du lịch của cả nước, biển Việt Nam đã và đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi trường. Một trong những lý do gây ra ô nhiễm vùng biển là nguồn nước thải từ các sông dẫn đến môi trường biển nhiều nơi đang có xu hướng suy giảm về chất lượng.

Ô nhiễm chất hữu cơ và dầu mỡ đã và đang diễn ra khá phổ biến ở các tỉnh thành ven biển Việt Nam, đặc biệt là vùng cửa sông các tỉnh phía Bắc, tuy chỉ có tính cục bộ nhưng khá cao và vượt mức cho phép ở gần các khu du lịch, đông dân như Cửa Lục, Sầm Sơn,… Ở những khu vực này, phú dưỡng, thủy triều đỏ và tảo độc hại đã là một vấn đề môi trường nổi bật. Các sự cố môi trường do tràn dầu, hóa chất, xói lở bờ biển… ngày càng gia tăng như sự cố ô nhiễm môi trường biển do việc xả thải từ Khu công nghiệp Vũng Áng, Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa trong năm 2016. Sự ô nhiễm này dẫn đến hủy diệt hải sản và phá hủy các rặng san hô phù du, gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. Vùng biển Bắc Trung Bộ cần có cách tiếp cận thích hợp để phát triển, thúc đẩy và duy trì du lịch biển mà không gây tác động xấu tới môi trường, xã hội và sự hoang sơ của bãi biển.

4. Giải pháp phát triển du lịch bền vững

Để tránh những tác động xấu của du lịch tới môi trường, đảm bảo địa phương có thể khai thác du lịch một cách bền vững, địa phương có thể xem xét các khuyến nghị trong Bảng dưới đây, ở cả góc độ quy hoạch bãi biển, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ sinh thái.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Alegre, J., & Cladera, M. (2006). Repeat visitation in mature sun and sand holiday destinations. Journal of travel research, 44(3), 288-297.
  2. Alegre, J., & Garau, J. (2010). Tourist satisfaction and dissatisfaction. Annals of tourism research, 37(1), 52-73.
  3. Chan, E.S.W. (2014). Green marketing: hotel customers' perspective. J. Trav. Tourism Market, 31(8), 915–936.
  4. Kozak, M. (2001). Repeaters' behavior at two distinct destinations. Annals of tourism research, 28(3), 784-807.
  5. Klein, L., Dodds, R. (2017). Perceived effectiveness of Blue Flag certification as an environmental management tool along Ontario's Great Lakes beaches. Ocean Coast Manag, 141(1), 107–117. https://doi.org/10.1016/j.ocecoaman.2017.03.001.
  6. Đặng Trung Tú và Phạm Thị Hà (2019), “Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam, thực trạng và khuyến nghị” ”, truy cập lần cuối ngày 5 tháng 6 năm 2020, https://isponre.gov.vn/home/dien-dan/1789-o-nhiem-moi-truong-bien-viet-nam-thuc-trang-va-khuyen-nghi
  7. Lê Trần Chấn và Trần Thị Thúy Vân (2015), “Khu du lịch Công viên Biển Xanh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa những thách thức đối với đa dạng sinh học trong phát triển bền vững”, truy cập lần cuối ngày 25 tháng 5 năm 2020, https://isponre.gov.vn/home/dien-dan/1789-o-nhiem-moi-truong-bien-viet-nam-thuc-trang-va-khuyen-nghi.

Developing the sea tourism in the North Central Region of Vietnam

Pham Thi Thanh Huyen

National Economics University

ABSTRACT:

There are many interesting recreational activities on beaches such as rowing, fishing, swimming, walking and sunbathing. Beaches offer unique habitats for a variety of plants and animals. Thanks to the hot and humid tropical climate, mangroves gradually dominate beaches, lagoons and estuaries. Having a unique ecosystem, the sea tourism in the North Central Region of Vietnam can fully develop sustainable eco-tourism products.

Keywords: Sea tourism, sustainable tourism, North Central Region.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 14, tháng 6 năm 2020]