Vấn đề phát triển nhân cách con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế bền vững

TS. TRỊNH VIỆT TIẾN (Khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội)

TÓM TẮT:

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam trong xây dựng và phát triển văn hóa, nhân cách con người, vừa tiếp thu các giá trị tiến bộ, tinh hoa của nhân loại, vừa phải bảo vệ và giữ gìn được bản sắc dân tộc. Trong phát triển kinh tế, con người là yếu tố trung tâm mang lại sự thành công. Do vậy, việc chú trọng nghiên cứu các nhân tố tác động đến con người trong xã hội mang lại sự phát triển kinh tế bền vững là điều cần tiếp cận cụ thể, chi tiết, rõ ràng. Bài viết này đi vào nghiên cứu một số vấn đề tác động đến nhân cách con người để hướng tới phát triển nền kinh tế bền vững và bản sắc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: nhân cách con người, hội nhập quốc tế, kinh tế bền vững.

I. Nhân cách con người

1. Khái niệm nhân cách con người

Nhân cách là một từ Hán - Việt, dùng phổ thông trong giao tiếp của người Việt. Học giả Đào Duy Anh, tác giả cuốn Hán Việt từ điển, xuất bản năm 1950 đã giải thích: “Nhân cách: Phẩm cách của con người; cái tính cách riêng của một người; cái tư cách tự chủ độc lập của người ta ở trên pháp luật” (1). Cuốn sách này cũng giải thích: “Tư cách: Thân phận người ta ở trên xã hội; tài khí và trình độ của người vừa đúng theo một việc gì, cũng gọi là tư cách” (2). Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, xuất bản năm 1967 cũng giải nghĩa: “Nhân cách: Phẩm chất con người” (3). Như vậy, nhân cách hiểu theo nghĩa phổ thông là phẩm cách hay phẩm chất của con người.

Dưới góc độ khoa học, việc nghiên cứu nhân cách đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong nước và ngoài nước quan tâm với những định nghĩa, lý thuyết, quan điểm tiếp cận khác nhau. Ở Việt Nam có hai công trình nghiên cứu chuyên sâu luận bàn về nhân cách: Cuốn “Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên” (4) do Phạm Minh Hạc chủ biên, chủ trương xác định những giá trị cơ bản của nhân cách, chính là tìm ra cái cốt lõi của nhân cách, có ý nghĩa, có giá trị sống còn đối với mỗi con người. Cuốn “Xây dựng nhân cách văn hóa những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam” của nhóm tác giả Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan, Vũ Anh Tú, chủ trương tiếp cận nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam trong một bối cảnh rộng của lịch đại lẫn đồng đại, từ đó “có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho việc xây dựng nhân cách văn hóa cho con người Việt Nam hiện nay”. Công trình nghiên cứu này đã nêu ra định nghĩa có tính phổ quát về nhân cách: “Nhân cách là các phẩm chất và năng lực của con người được biểu hiện và thể hiện trong một hệ thống ứng xử nhất định đối với thế giới xung quanh và ngay với chính bản thân mình”.

Tóm lại, nhân cách con người chính là sự tự tin, lòng tự trọng, biểu hiện cái tâm, cái tài, cái tầm của con người. Xây dựng nhân cách con người là quá trình nuôi dưỡng, hình thành đạo đức (cái tâm); bồi dưỡng, sử dụng đúng và phát huy được năng lực (cái tài) và tạo điều kiện để con người nhập thế, tích cực phát huy tài năng, đức độ, tham gia các hoạt động xã hội vì con người (cái tầm).

2. Các yếu tố hình thành, phát triển nhân cách

Cuộc sống thực của mỗi con người diễn ra vô cùng sinh động, đa dạng, phong phú và phức tạp. Do đó, nhân cách của mỗi người được hình thành dưới sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, nhân cách của bất kì ai cũng được hình thành và phát triển dưới sự tác động của các yếu tố: (1) Di truyền bẩm sinh, (2) Hoàn cảnh sống (Hay có thể hiểu là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), (3) Nhân tố giáo dục, (4) Nhân tố hoạt động, (5) Yếu tố giao tiếp.

Nhân tố di truyền bẩm sinh: Đó là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc điểm, thuộc tính giống như mình do một hay nhiều gen bằng con đường sinh học trực tiếp.

Hoàn cảnh sống: bao gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. Nhân cách như một thành viên xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất, tinh thần, phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, nghề nghiệp - những cái vốn có liên hệ với điều kiện tự nhiên ấy và qua phương thức sống của chính bản thân nó. Bên cạnh đó, qua thời gian, nhân cách con người cũng chịu sự ảnh hưởng của xã hội. Nếu không có sự tiếp xúc với con người thì cá thể lớn lên và phát triển trong trạng thái động vật, nó không thể trở thành một con người, một nhân cách. Nhân cách là một sản phẩm của xã hội, như thế có nghĩa là nếu muốn một đứa trẻ trở thành một nhân cách đồng nghĩa với việc phải cho nó tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị bước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại.

Nhân tố giáo dục: Theo quan điểm của tâm lý học và giáo dục hiện đại thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách. Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.

Nhân tố hoạt động: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định, với những công cụ nhất định.

Yếu tố giao tiếp: Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người. Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người, nhờ giao tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực xã hội, đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp năng lực của mình vào kho tàng chung của nhân loại.

Như vậy, sự hình thành và phát triển của nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố cơ bản, đóng vai trò quan trọng như: yếu tố bẩm sinh - di truyền; yếu tố hoàn cảnh sống; nhân tố giáo dục; nhân tố hoạt động; và yếu tố giao tiếp.

Mỗi người cần nên biết những yếu tố cơ bản, quan trọng trên để từ đó có thể định hướng cho mình một con đường đúng đắn trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Chúng ta có thể tự tạo cho mình một môi trường lành mạnh, tạo môi trường sống từ gia đình, từ nơi học tập, làm việc,… Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nuôi dưỡng cho mình một kho tàng tri thức, biết tiếp thu một cách chọn lọc những ảnh hưởng tốt và sàng lọc, gạn lược đi những thói hư tật xấu, những hệ quả tiêu cực của xã hội hiện đại để ngày càng hoàn thiện hơn nhân cách của bản thân mình.

II. Nhân cách con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển bền vững

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân cách con người trong xây dựng và phát triển kinh tế

Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp cũng như hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy tư tưởng về kinh tế nói chung và quan điểm về phát huy nhân cách con người trong quá trình sản xuất kinh tế nói riêng là một vấn đề trung tâm, xuyên suốt. Người thường nói: “Vô luận việc gì đều do con người làm ra cả”, “có dân là có tất cả”. Do đó, Người thường nhắc nhở cán bộ phải biết tin ở dân; dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân - của toàn thể cộng đồng cũng như của mỗi cá nhân.

Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực vậy, trước bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế, thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Trong tiến trình phát triển cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: Nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại.

Con người là nhân vật trung tâm của xã hội, là chủ thể chân chính sáng tạo ra mọi giá trị vật chất - tinh thần để phục vụ lại chính đời sống của mình. Trong mọi hoạt động của xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh tế không thể thiếu vắng bàn tay và khối óc của con người.

Nói nhân cách con người là nói đến những phẩm chất, thuộc tính, tri thức, kinh nghiệm, năng lực, thói quen,… của con người được biểu hiện trong các dạng thức hoạt động khác nhau, qua đó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh tế. Một quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế là nguyên tắc hạch toán kinh tế, làm ăn phải hiệu quả.

2. Phát triển nhân cách con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển bền vững

Con người là thực thể quan trọng trong xã hội, trong hội nhập và phát triển kinh tế; con người là chủ thể thể hiện các chuẩn mực chung, tuân

theo hệ thống pháp luật và các giá trị đạo đức truyền thống.

Nhân cách con người có tác động quan trọng đến phát triển kinh tế, sự phát triển bao giờ cũng nằm trong sự tác động của các mặt của sự phát triển mang lại. Mối quan hệ qua lại giữa phát triển bỏ qua nhân cách con người có tác động nguy hiểm đến sự phát triển của xã hội loài người và cho nền kinh tế của mỗi quốc gia.

Thực tế một số nước khi phát triển kinh tế đã không chú trọng đến tác động của nhân cách con người đã gây ra hệ lụy vô cùng tiêu cực đạo đức kinh doanh, đạo đức thực thi công vụ bị ảnh hưởng nhiều nên việc chú trọng đến các yếu tố này là việc rất quan trọng. Vì vậy, nhân cách trong hội nhập và phát triển kinh tế là điều vô cùng cần thiết trong mọi góc độ của công việc. Ngày nay, nhiệm vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế là vấn đề của mỗi quốc gia Việt Nam cũng vậy cần lấy phẩm chất, nhân cách của con người Việt Nam đặt lên hàng đầu coi đó là lợi thế so sánh để hội nhập và phát triển, chỉ có điều đó chúng ta mới có một nhận diện riêng có của người Việt Nam trên trường quốc tế. Cần nhìn nhận vấn đề trên cả một bề dày văn hóa, lịch sử xã hội của dân tộc trong suốt thời gian lịch sử đã qua. Trong kinh tế để mang đến sự phát triển không đánh đổi sự phát triển lấy sự mờ nhạt về văn hóa, sự phát triển quên nhân cách đó là sự phát triển đặc thù sâu xa.

Hội nhập bằng nhân cách là mang cái hồn cốt và bản sắc của mình mà không vay mượn, sao bản của bất kỳ một nền văn hóa nào để thể hiện. Cần xây dựng nhân cách con người trong phát triển bao hàm đầy đủ nét truyền thống có đưa vào nét hiện đại hội nhập để tạo nên sự hội nhập và phát triển kinh tế nhân văn bền vững. Sự kết hợp tinh hoa truyền thống và nét đương đại là yêu cầu lớn trong giai đoạn hiện nay của sự phát triển. Sự hình thành của con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau chịu nhiều tác động của các đặc tính kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi thời điểm tuy nhiên một đặc tính đặc trưng bất diệt là bất kỳ một thời đại nào, quốc gia nào đều phải thể hiện một nét con người một hệ nhân cách tiêu biểu của quốc gia với những nét cao thượng hài hòa của nhân cách con người, xã hội nào thì nhân cách đó, tổ chức nào thì văn hóa nhân cách đó.

Hiện nay nước ta đang phát triển sâu, rộng về mọi mặt, trong đó kinh tế là cốt lõi là căn bản cho sự phát triển. Trong phát triển kinh tế nếu vì những lợi ích mà quên đi thể hiện nhân cách thì đó là phát triển kinh tế không bền vững chỉ phát triển tức thời và không lâu dài dẫn đến không thành công mất uy tín trên trường quốc tế khó có thể hội nhập lâu dài được. Việc nhân cách bị đẩy xa khỏi ý thức con người trong phát triển kinh tế dẫn đến các lĩnh vực trong phát triển kinh tế bị tác động tiêu cực đơn cử như có thể nền kinh tế không an toàn. Đối với nước ta là một nước xuất khẩu lớn về nông nghiệp, lương thực, thủy sản, cà phê, ca cao, hạt tiêu, rau quả nếu không có nhân cách trong kinh doanh thì vấn đề thực phẩm không an toàn, các sản phẩm xuất khẩu không an toàn sẽ dẫn đến hệ hụy vô cùng to lớn. Vì vậy, việc luôn gắn nhân cách con người, trách nhiệm của con người trong phát triển kinh tế là điều tối cần thiết. Cần xây dựng khung tiêu chuẩn văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh văn hóa doanh nghiệp trên nền tảng các giá trị nhân văn của con người là rất cần thiết.

Do đó, trong thời gian tới, việc hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam cần nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu để phát triển. Phải luôn phát huy các giá trị văn hóa cao đẹp, cao thượng của Việt Nam, lấy đó làm nhân tố hội nhập thể hiện trong con người kinh doanh con người làm kinh tế phát triển kinh tế. Con người Việt Nam luôn có đặc trưng là con người chịu thương chịu khó với tinh thần dân tộc, tương thân tương ái, luôn khắc phục khó khăn trong mọi hoàn cảnh. Luôn phát huy tinh thần hợp tác, đoàn kết, biết hòa hợp gắn kết mọi nền văn hóa với nhau để cùng phát triển. Phải đổi mới tư duy, cập nhật kiến thức mới để hội nhập quốc tế, phải biết chấp nhận những kiến thức mới trên cơ sở có chọn lọc dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống quốc gia, hiểu và hội nhập mọi vấn đề quốc tế nhưng không để trống nền tảng văn hóa quốc gia.

Nhân cách con người trong hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế hướng đến bền vững là đích đến của nền kinh tế Việt Nam, trên quan điểm hội nhập kinh tế bền vững và mang các yếu tố văn hóa nhân cách vào làm nét đặc thù. Mỗi con người trong tổ chức, doanh nghiệp cần ý thức được vấn đề đó để tiếp tục hoàn thiện các hệ nhân cách trong kinh doanh, trong hoạch định chính sách, trong thực thi công vụ để mang lại nét đặc trưng của Việt Nam trong hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế.

III. Những vấn đề đặt ra trong phát triển nhân cách con người Việt Nam thời kỳ hội nhập

Thực tiễn cũng đã chứng minh, để xây dựng và phát triển kinh tế bền vững cần hội đủ 5 yếu tố, đó là: vốn, khoa học và công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và quản lý nhà nước, trong đó con người là yếu tố quyết định. Do vậy, trong công cuộc đổi mới ở nước ta, nhân tố con người, nguồn lực con người và nhân cách của con người chính là phát triển yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để phục vụ cho chính sách con người và xã hội.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực văn hóa xã hội là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, với tư cách là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng”.

Phát triển nhân cách con người, con người toàn diện - đó cũng chính là động lực, là mục tiêu mà chúng ta đang từng bước tiến hành. Bởi lẽ, người lao động ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chất lượng người lao động, nhân cách người lao động là nhân tố quyết định.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, con người đã đạt tới một trình độ nhận thức mới về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển nhân cách con người. Trong đó, phát triển nhân cách con người được xem là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược; là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chi Minh nói chung và tư tưởng của Người về bản chất con người xã hội chủ nghĩa nói riêng, ngoài công tác đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho nhân cách con người Việt Nam, coi trọng, bồi dưỡng nhân tài, trang bị chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa đạo đức, ý thức kỷ luật lao động, thì chất lượng của nguồn lực con người cần được chú trọng, đó là sức mạnh trí tuệ và tay nghề.

Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phải coi trọng công tác giáo dục đào tạo và khẳng định phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu như sinh thời Hồ Chí Minh vẫn thường nhấn mạnh. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực con người có nhân cách cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, căn cứ vào yêu cầu phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ, cần tổ chức bố trí lại lực lượng lao động một cách hợp lý trên phạm vi cả nước theo hướng đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo những ngành nghề mũi nhọn.

Thứ hai, cần tập trung nguồn lực cho giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ, đồng thời quản lý sử nguồn lực này có mục đích và có hiệu quả. Giáo dục đào tạo - khoa học công nghệ được định hướng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, do đó, cần có những đơn đặt hàng từ phía xã hội, chính thị trường sẽ thúc đẩy các cơ quan giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học; đồng thời, kích thích tính sáng tạo khoa học của các nhà giáo dục, các nhà nghiên cứu để họ cống hiến và đem lại hiệu quả đích thực.

Thứ ba, cần đổi mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện, không phải là chạy theo thành tích, hình thức, khẩu hiệu mà giáo dục phải đi theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành cho người học đặc biệt đối với bậc học cao đẳng, đại học và đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát tiển của đất nước.

Xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và tạo điều kiện cho mọi người được học tập suốt đời, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của con người; Cần quan tâm đến lợi ích người lao động, trong đó cần chú ý trả lương đúng mức cho đội ngũ cán bộ khoa học, tránh tình trạng bình quân, thiếu công bằng đối với người lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động khoa học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017). Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lai, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
  3. Học viện Chính trị Quốc gia (2000). Giáo trình đạo đức học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  4. Nguyễn Mạnh Quân (2007). Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
  5. Dương Thị Liễu (2013), Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
  6. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

THE IMPACT OF PERSONALITY DEVELOPMENT

ON THE SUSTAINABLE ECONOMIC DEVELOPMENT

IN THE CONTEXT OF VIETNAM’S INTERNATIONAL

INTEGRATION PROCESS

• Ph.D TRINH VIET TIEN

Faculty of Human Resource Management, Hanoi University of Home Affairs

ABSTRACT:

The international integration process poses many challenges for Vietnam in developing national culture and characteristics of Vietnamese people. Vietnam has to absorb progressive and quintessential values of humanity but the country is still to protect and preserve its national identity. In the national economic development process, Vietnamese people are considered the core factor which determines the country’s success. As a result, it is essential to study the factors affecting personality development. This paper studies the factors affecting personality development towards Vietnam’s sustainable economic development approach.

Keywords: human personality, international integration, sustainable economy.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 4, tháng 2 năm 2021]